Sách Giải Bài Tập và SGK

- Phần 1 (Từ đầu đến "giống nòi lo lắng"): Nghiêm túc phê phán thói học đòi "Tây hóa". -

- Phần 1 (Từ đầu đến "giống nòi lo lắng"): Nghiêm túc phê phán thói học đòi "Tây hóa".

- Phần 2 (Tiếp đến "để nói ra"): Làm rõ sự quan trọng của tiếng mẹ đẻ đối với cuộc giải phóng dân tộc. Chứng minh tiếng Việt rất giàu có.

- Phần 3 (Còn lại): Mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ nước ngoài.

- Nội dung:

    + Khẳng định tiếng mẹ đẻ là tài sản dân tộc quý giá, cần phải bảo vệ và phát triển.

    + Phê phán thói học đòi "Tây hóa", khẳng định tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng dân tộc.

    + Quan điểm, tầm nhìn chiến lược của Nguyễn An Ninh về vai trò của tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài.

- Nghệ thuật:

    + Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, rõ ràng.

    + Giọng văn khi đanh thép, hùng hồn khi thì nhẹ nhàng nhưng đầy sức thuyết phục.

Câu 1 (trang 91 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Nguyễn An Ninh phê phán lối học đòi "Tây hóa" qua những hành vi:

- Bập bẹ vài ba tiếng Tây trong lời nói.

- Lối sống lai căng từ kiến trúc đến lời tiếng nói.

- Phê phán quan niệm sai lầm cho rằng tiếng mẹ đẻ nghèo nàn. Bên cạnh đó vẫn vẫn khuyến khích trí thức học tiếng nước ngoài để tiếp thu kiến thức.

→ Lối học đòi "Tây hóa" là biểu hiện của việc mất gốc văn hóa, từ chối cội nguồn dân tộc.

Câu 2 (trang 91 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Tiếng mẹ đẻ rất quan trọng với vận mệnh dân tộc:

- Tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức, bóc lột.

- Tiếng mẹ đẻ là tiếng nói thống trị mang tinh thần dân tộc. Từ chối tiếng mẹ đẻ là từ chối quyền tự do.

- Bảo tồn và phát triển tiếng mẹ đẻ là con đường giúp dân mình tiếp xúc với văn minh nhân loại.

Câu 3 (Trang 91 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Tác giả đưa ra 3 dẫn chứng để khẳng định tiếng nước mình không nghèo:

- "Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?": Truyện Kiều là áng văn thiên cổ của dân tộc với ngôn từ phong phú, diễn tả được nhiều mặt của đời sống con người.

- "Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự": Khẳng định sự học hỏi tiếng nước ngoài chỉ để giao lưu văn hóa chứ không mang nền văn hóa áp đặt vào truyền thống dân tộc.

- "Ở An Nam cũng như mọi người khác đều có thể ứng dụng nguyên tắc này: Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra": Nhấn mạnh tiếng Việt rất giàu có, chỉ cần dân mình suy nghĩ kĩ, chịu khó tìm tòi, học hỏi thì không thiếu ngôn từ để thể hiện.

Câu 4 (Trang 91 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Mối quan hệ giữa tiếng nước ngoài và tiếng nước mình:

- Tác giả không phủ nhận vai trò của tiếng nước ngoài, còn khuyến khích "để cho đồng bào họ cũng phải được thông phần nữa".

- Việc học thêm tiếng nước ngoài sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức mới để phát triển xã hội, bản thân, làm giàu thêm cho ngôn ngữ nước mình.

Câu 5 (trang 91 SGK ngữ văn 11 tập 2)

- Trong hoàn cảnh nước nhà đang bị thực dân thống trị thì câu nói "Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian" tuy có lý nhưng lại chưa hoàn toàn đúng đắn.

- Muốn giải phóng dân tộc còn cần có đường lối lãnh đạo của Đảng và sự trang bị vững vàng về kinh tế, quân sự cùng tinh thần đoàn kết cao độ của toàn dân tộc.